CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG HÀNH TRÌNH LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI.

1. Quan điểm nền tảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra

Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền, công tác kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật Đảng chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Bác Hồ xem kiểm tra không phải là một thủ tục hành chính thuần túy, mà là một trong những chức năng lãnh đạo cốt lõi và là phương thức sống còn để giữ vững bản chất cách mạng của Đảng.

Một trong những luận điểm đúc kết sâu sắc và nổi tiếng nhất của Người là: "Lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo". Theo Bác, một chính sách dù có đúng đắn đến đâu nhưng nếu thiếu sự kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức thực hiện thì cũng dễ bị lệch hướng, biến tướng hoặc rơi vào hình thức. Kiểm tra chính là chiếc chìa khóa vàng để kết nối giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ trương của cấp ủy và hành động của đảng viên.

2. Xác lập kỷ luật sắt từ khi thành lập Đảng

Ngay từ Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ai Quốc soạn thảo tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 02/1930), tính kỷ luật và công tác tra xét nội bộ đã được đưa thành nguyên tắc bắt buộc.

Tháng 10/1930: Trong Điều lệ Đảng chính thức được thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, Đảng đã quy định rõ trách nhiệm kiểm tra, tra xét các vụ vi phạm kỷ luật nhằm bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động.

Tháng 10/1935 (Đại hội I của Đảng): Đại hội nhấn mạnh việc duy trì "kỷ luật sắt" đối với mọi cán bộ, đảng viên. Đảng kiên quyết loại bỏ những phần tử cơ hội, vi phạm đường lối chính trị hoặc làm tổn hại đến uy tín của tổ chức.

3. Sự ra đời của Ngành Kiểm tra Đảng và bài học "Sửa đổi lối làm việc"

Sau khi giành được chính quyền năm 1945 và bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Yêu cầu kiểm tra, giám sát càng trở nên sống còn đối với sự tồn vong của chế độ.

Năm 1947 — Tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc": Bác Hồ đã đúc kết bài học xương máu: "Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra". Người chỉ rõ: Muốn kiểm tra tốt thì phải đi đến tận nơi, nhìn tận mắt, nghe tận tai, không được chỉ dựa vào các báo cáo tô hồng của cấp dưới.

Ngày 16/10/1948 — Thành lập Ban Kiểm tra Trung ương: Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Quyết nghị số 29-QN/TW thành lập Ban Kiểm tra Trung ương do đồng chí Trần Đăng Ninh làm Trưởng ban. Đây là mốc lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời chính thức của Ngành Kiểm tra Đảng Việt Nam.

Ngày 30/11/1948 — Bài viết "Kiểm tra" trên Báo Sự thật: Bác nhấn mạnh kiểm tra phải có hệ thống và phải vận dụng sắc bén hai vũ khí là Tự phê bình và Phê bình.

Vụ án Trần Dụ Châu (1950) — Bài học về tính nghiêm minh và nhân văn: Trước vụ án tham ô quân trang nghiêm trọng của nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết bác đơn xin tha tội chết. Người nêu rõ quan điểm: "Với loài sâu mọt đục khoét nhân dân... nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo".

CỦNG CỐ TỔ CHỨC VÀ ĐẨY MẠNH KIỂM TRA TRONG CHIẾN TRANH (1954 – 1975)

1. Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Miền Bắc và hỗ trợ Chiến trường Miền Nam

https://tennguoidepnhat.net/wp-content/uploads/2012/04/le1bb9di-ce1bba7a-bc3a1c.jpg?w=225&h=300Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết năm 1954, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Đảng ta lãnh đạo hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng Miền Nam. Công tác kiểm tra lúc này tập trung vào việc chống chống lãng phí, tham ô, quan liêu và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng.

2. Các mốc sự kiện tổ chức kiểm tra quan trọng (1954 - 1975)

- Nghị quyết Bộ Chính trị (06/03/1956): Quyết định kiện toàn Ban Kiểm tra các cấp từ Trung ương đến tỉnh/thành ủy nhằm siết chặt kỷ cương trong công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh.

- Đại hội III của Đảng (Tháng 9/1960): Điều lệ Đảng sửa đổi tại Đại hội III quy định Ủy ban Kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu ra. Đại hội tiếp tục khẳng định: "Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu".

Di sản Chủ tịch Hồ Chí Minh: Từ đoàn kết trong Đảng đến đồng thuận xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (Từ tháng 9-1960 đến tháng 12-1976)

Tại Hội nghị Tổng kết công tác kiểm tra (29/07/1964): Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp đến dự và phát biểu chỉ đạo quan trọng. Người lưu ý cán bộ kiểm tra không được mang tư tưởng "vạch lá tìm sâu", không được hách dịch hay trả thù cá nhân, mà phải lấy lòng nhân ái cách mạng để giúp đỡ đồng chí mình nhận ra sai lầm để sửa chữa. Bác phát biểu:

“Bác thay mặt Trung ương chúc các đồng chí mạnh khoẻ. Nhân đây, Bác nêu vài ý kiến để giúp các đồng chí thảo luận:

Công việc của Đảng và Nhà nước ngày càng nhiều. Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng. Và muốn như vậy, thì các cấp uỷ đảng phải tǎng cường công tác kiểmtra. Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố đảng về tư tưởng, về tổ chức.

Trong hai nǎm qua, nói chung các cấp uỷ đảng đã chú ý lãnh đạo công tác kiểm tra và chấn chỉnh uỷ ban kiểm tra. Tuy vậy, hiện nay còn có một số cấp uỷ đảng coi nhẹ và không chú ý lãnh đạo công tác kiểm tra. Thậm chí có uỷ viên tỉnh và huyện cho công tác kiểm tra là “vạch lá tìm sâu”, làm giảm thành tích của địa phương mình, v.v.. Đó là thành kiến sai lầm, cần phải sửa chữa.

Ủy ban kiểm tra các cấp cũng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, đã cố gắng trong việc giúp các cấp uỷ giữ gìn kỷ luật của Đảng và đóng góp vào công tác xây dựng đảng. Đó là những ưu điểm của các cán bộ kiểm tra. Nhưng vẫn còn những nhượcđiểm cần phải khắc phục. Ví dụ:

– Công tác kiểm tra còn bị động và nặng về giải quyết những vụ vi phạm kỷ luật trước mắt, chưa chủ động về việc giải quyết toàn diện vấn đề giữ gìn kỷ luật và chấp hành Điều lệ của Đảng, để nâng cao ý thức của đảng viên và cán bộ một cách cǎn bản và lâu dài.

– Việc xử lý kỷ luật, xét thư khiếu nại làm còn chậm chạp. Kiểm tra đảng viên phạm sai lầm còn chưa chủ động. Việc hướng dẫn vận dụng phương châm kỷ luật chưa được chặt chẽ, để cho kỷ luật đảng có chỗ bị buông lỏng, vì vậy mà thiếu tác dụng giáo dục và ngǎn ngừa đảng viên khỏi phạm kỷ luật.

Nói chung, tuyệt đại đa số đảng viên và cán bộ ta giữ gìn tốt kỷ luật của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng. Chính vì vậy mà Đảng ta đoàn kết và lãnh đạo được toàn dân, giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong sự nghiệp đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhưng cũng còn một số cán bộ và đảng viên phạm kỷ luật. Đó là do cá nhân chủ nghĩa làm họ mù quáng. Đảng phải giáo dục họ, giúp đỡ họ sửa chữa để xứng đáng là người đảng viên.

Mỗi đảng viên, mỗi chi bộ, mỗi cấp uỷ đảng phải luôn luôn tǎng cường công tác tư tưởng của Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, bảo đảm chặt chẽ kỷ luật và tổ chức của Đảng.

Các uỷ ban kiểm tra phải góp phần xứng đáng vào công tác đó. Muốn làm được như vậy, các uỷ ban và cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, quan điểm của Đảng, phải luôn luôn chú ý nâng cao khả nǎng chuyên môn, phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng. Đặc biệt là phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, phải thật thà phê bình và tự phê bình để làm gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật của Đảng. Phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến. Như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra.

Chúc Hội nghị thành công”

3. Công tác kiểm tra trên chiến trường Miền Nam

Trong điều kiện chiến tranh gian khổ, ác liệt, công tác kiểm tra vẫn được duy trì nghiêm túc để giữ vững tinh thần chiến đấu và sự trong sạch của lực lượng cách mạng:

Năm 1969: Trung ương Cục Miền Nam quyết định thành lập Ban Kiểm tra Trung ương Cục do đồng chí Phan Văn Đáng (Hai Văn) làm Trưởng ban.

Năm 1970: Ban Kiểm tra Khu ủy Khu V được thành lập, góp phần quan trọng vào việc giữ nghiêm kỷ luật Đảng ngay trong lòng tuyến đầu chống Mỹ.

BƯỚC CHUYỂN TỪ "KIỂM TRA" SANG "KIỂM TRA, GIÁM SÁT" TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1976 – 2011)

1. Giai đoạn tái thiết đất nước (1975 – 1986)

Sau Đại thắng Mùa Xuân 1975, đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Đại hội IV (1976) và Đại hội V (1982): Hệ thống Ban Kiểm tra hai miền Nam - Bắc được hợp nhất. Đảng nhấn mạnh việc kiểm tra phải tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết kinh tế, chống hối lộ, đầu cơ và suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ có chức có quyền.

2. Công cuộc Đổi mới và sự phát triển tư duy kiểm tra (1986 – 2006)

Đại hội VI (1986): Mở đầu thời kỳ Đổi mới toàn diện đất nước. Đảng xác định kiểm tra là công cụ hữu hiệu nhất để khắc phục tình trạng quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân.

Đại hội VII (1991) & Đại hội VIII (1996): Mở rộng quyền hạn của Ủy ban Kiểm tra các cấp: không chỉ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm mà còn kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật của cấp ủy cấp dưới.

Đại hội X (2006) — Bước ngoặt mang tính lịch sử: Lần đầu tiên Đảng chính thức bổ sung hàm hàm nghĩa và chức năng "GIÁM SÁT" vào Điều lệ Đảng, đổi tên gọi từ "Công tác kiểm tra" thành "Công tác kiểm tra, giám sát".

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VÀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI

1. Đột phá trong công tác Xây dựng, Chỉnh đốn Đảng (Đại hội XII, XIII đến nay)

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Tổng Bí thư đã đạt được những kết quả hết sức toàn diện, đột phá.

Phương châm hành động: "Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai".

Thể chế hóa đồng bộ:

+ Quy định số 22-QĐ/TW (2021): Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

+ Quy định số 69-QĐ/TW (2022): Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (hợp nhất các quy định cũ, siết chặt kỷ luật đối với hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa").

+ Kết luận số 34-KL/TW (2022): Về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030.

2. Vận dụng thực tiễn tại các cấp ủy địa phương

Thấm nhuần tư tưởng của Bác, Đảng ủy và Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Đảng ủy phường Hòa Bình, thành phố Hải Phòng đã cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương và thành phố về công tác kiểm tra, giám sát thành các chương trình, kế hoạch cụ thể sát hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Đảng ủy phường Hòa Bình xác định công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng bộ, trước hết là của Cấp ủy và người đứng đầu. Các kế hoạch kiểm tra, giám sát hằng năm đều được xây dựng đúng trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những khâu đột phá, những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm như: Quản lý đất đai, trật tự xây dựng, tài chính - ngân sách; Thực hiện quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ; Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách phong cách Hồ Chí Minh gắn với cam kết tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên; Thực hiện chuyên đề "Tự soi, tự sửa", kê khai và công khai tài sản, thu nhập theo quy định…

Nhớ lời Bác dặn về việc phòng bệnh hơn chữa bệnh, Đảng bộ phường Hòa Bình chú trọng đẩy mạnh công tác giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu vi phạm từ khi mới phát sinh. UBKT Đảng ủy phường thường xuyên dự sinh hoạt định kỳ với các chi bộ trực thuộc, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Tăng cường công tác giám sát việc thực hiện các nghị quyết, kế hoạch công tác của chi bộ, đặc biệt là công tác quản lý các dự án, công trình đầu tư công và công tác vệ sinh môi trường, an sinh xã hội trên địa bàn.

 Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Đảng bộ phường Hòa Bình đã tích cực ứng dụng các giải pháp chuyển đổi số vào nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và quản lý hồ sơ chuyên môn như số hóa hệ thống sổ sách, tài liệu, quy trình kiểm tra, giám sát, giúp việc lưu trữ và tra cứu thông tin được thực hiện nhanh chóng, chính xác. Khai thác hiệu quả các ứng dụng kết nối, thông tin đa chiều để tiếp nhận phản ánh của quần chúng nhân dân đối với thái độ phục vụ và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức phường.

Đồng thời, Đảng ủy phường quan tâm củng cố, kiện toàn UBKT Đảng ủy và đội ngũ làm công tác kiểm tra tại các chi bộ. Thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn; quán triệt tinh thần làm việc công tâm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, "nói đi đôi với làm" theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Nhờ làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, số lượng đảng viên vi phạm kỷ luật trên địa bàn phường được kiềm chế và giảm thiểu đáng kể. Các chi bộ duy trì nghiêm túc nếp sinh hoạt Đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ. Sự chủ động trong giám sát đã thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức; giải quyết dứt điểm nhiều phản ánh, kiến nghị chính đáng của Nhân dân ngay từ cơ sở, không để phát sinh tình trạng khiếu kiện kéo dài hay "điểm nóng". Qua đó, đã góp phần bảo đảm các dự án, kế hoạch phát triển kinh tế, đô thị, văn hóa - xã hội trên địa bàn phường được triển khai đúng tiến độ, công khai, minh bạch.

Nhìn lại lịch sử cách mạng và hướng tới tương lai, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát vẫn là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng Đảng. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát chính là cách thiết thực nhất để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, bảo vệ tính kỷ cương và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Với quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng của toàn dân, công tác kiểm tra, giám sát chắc chắn sẽ tiếp tục đạt được nhiều kết quả to lớn, góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu và sự kỳ vọng của Nhân dân. 

3. Những giá trị thời đại cốt lõi đúc kết từ Tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Kiểm tra là "trị bệnh cứu người": Kỷ luật không phải để vùi dập cán bộ, mà để làm trong sạch bộ máy, cảnh tỉnh, cảnh báo, giúp người vi phạm thấy lỗi để khắc phục.

Kiên quyết nhưng nhân văn: Giữ vững sự nghiêm minh của pháp luật và Điều lệ Đảng, nhưng luôn mở đường cho những cán bộ biết ăn ăn hối cải, sửa chữa khuyết điểm.

Dựa vào Nhân dân để kiểm tra: Bác Hồ từng dạy: "Dân như nước, cán bộ như cá". Muốn kiểm tra chính xác, cán bộ kiểm tra phải biết lắng nghe ý kiến, phản ánh và sự giám sát của nhân dân.

TỔNG KẾT BÀI HỌC LỊCH SỬ

Hành trình lịch sử hơn 95 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh một chân lý: Sức mạnh và uy tín của Đảng không tự nhiên mà có, mà được tôi luyện qua kỷ luật nghiêm minh và công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên. Nghiêm túc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra là con đường duy nhất để Đảng ta mãi vững vàng trước mọi thử thách, tiếp tục lãnh đạo đất nước phát triển phồn vinh và hạnh phúc.

 

btv hoabinh
QR Code
image advertisement
  

image advertisement

image advertisement
image advertisement
image advertisement

 

                                       

image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0